RSS

Nhân vật lịch sử: Trần Khắc Chung


Originally posted on Vuhavan's Blog:

Ông Trần Khắc Chung tên thật là Đỗ Khắc Chung, vì có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, nên được đổi theo họ vua.  Đây là một trong những nhân vật đặc biệt nhất của nhà Trần, với một cuộc đời đầy sóng gió.

Lần đầu tiên tôi đọc về ông Đỗ Khắc Chung là từ “Nghìn xưa văn hiến” của cụ Trần Quốc Vượng, chắc hồi cấp 1. Chuyện kể về việc Đỗ Khắc Chung đi sứ vào trại Ô Mã Nhi.  Đầu cuộc xâm lược lần thứ hai của Mông cổ, Ô Mã Nhi làm tiên phong, thế lực rất mạnh, quân Đại Việt phải lui nhiều trận. Vua Trần muốn cử một người  sang đi sứ để thăm dò bên địch. Ông Đỗ Khắc Chung, lúc đó chỉ là một chức quan nhỏ, xung phong xin đi. Ông đối đáp với Ô Mã Nhi rất…

View original 1,211 more words

 
Leave a comment

Posted by on 03/20/2014 in Uncategorized

 

[Ngân hàng VN] Cập nhật kết quả kinh doanh 2011 của 09 NHTM niêm yết


9 NHTM niêm yết (CTG, VCB, STB, EIB, ACB, MBB, HBB, SHB, NVB) đã công bố kết quả kinh doanh năm 2011. Mặc dù năm 2011 được đánh giá là một năm khó khăn với hầu hết các doanh nghiệp nhưng câu chuyện đó không áp dụng với ngành ngân hàng!

Lợi nhuận trước thuế 9 ngân hàng (mẹ) đạt hơn 29.200 tỷ đồng, tăng 35% năm 2010

Theo đó, lợi nhuận trước thuế của 9 NHTM trong năm 2011 đạt tổng 29.202 tỷ đồng, tăng 35% so với năm trước, trong đó CTG và EIB là hai ngân hàng có mức tăng lợi nhuận trước thuế (LNTT) lớn nhất với tỷ lệ 77% và 72%, CTG cũng là ngân hàng có LNTT lớn nhất với 7.782 tỷ đồng. Có 2 ngân hàng có lợi nhuận giảm so với năm 2011 là HBB (giảm 27%) và NVB (giảm 2%).

(Đơn vị: Tỉ đồng)

Về cơ cấu doanh thu của các NHTM, chủ yếu nguồn thu vẫn từ hoạt động cho vay lãi, thu nhập lãi thuần năm 2011 của 9 NHTM niêm yết đạt hơn 58.800 tỷ đồng, tăng 63% so với năm 2010; trong đó EIB có mức tăng thu nhập lãi thuần cao nhất với tỷ lệ 84%, HBB thấp nhất với tỷ lệ 22%.

Về dịch vụ, hai ngân hàng lớn là VCB và CTG giảm lãi từ dịch vụ so với năm 2010, trong khi SHB và HBB lại tăng mạnh lãi từ dịch vụ.

 

Về kinh doanh ngoại hối, VCB là ngân hàng kinh doanh ngoại hối hiệu quả nhất với lãi từ ngoại hối năm 2011 đạt 1.178 tỷ, gấp đôi năm trước; ACB, HBB, NVB, MBB là 4 ngân hàng kinh doanh ngoại hối bị lỗ trong năm 2011 trong đó ACB lỗ nhiều nhất với hơn 160 tỷ.

Về hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư, bất ngờ HBB lãi hơn 385 tỷ từ hoạt động này, VCB không đầu tư chứng khoán năm 2011 còn 7 ngân hàng khác đều lỗ. Cá biệt MBB lỗ hơn 530 tỷ mua bán chứng khoán đầu tư.

 

Tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2011 của 9 NHTM là 19%

Dư nợ cho vay của 9 ngân hàng tính đến 31/12/2011 đạt hơn 875.000 tỷ đồng, trong đó 3 ngân hàng lớn đã chiếm 68,4% tổng dư nợ (CTG chiếm 33%, VCB chiếm 23,7%, ACB chiếm 11,64%).

Trong khi tăng trưởng tín dụng toàn ngành theo thông báo của Thống đốc NHNN năm 2011 từ 12-13% thì tăng trưởng tín dụng bình quân năm 2011 của 9 NHTM niêm yết đạt 19%, cá biệt dư nợ của HBB giảm 4,57% so với năm trước còn STB tăng 1,41%, mức tăng rất thấp đáng ngạc nhiên so với quy mô của STB.

Có 3 ngân hàng có tăng trưởng tín dụng vượt 20% là CTG, SHB và MBB, trong đó MBB tăng trưởng tín dụng đạt tới 31%.

Tổng nợ xấu năm 2011 của 9 NHTM đạt 11.642 tỷ, tăng 20% so với năm 2010

Về số tuyệt đối, tổng nợ xấu năm 2011 của 9 NHTM đạt 11.642 tỷ, tăng 20% so với năm trước. HBB có tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cao nhất 4,69%, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống (3,6-3,8%). Có 3 ngân hàng có nợ xấu dưới 1% là CTG, ACB và STB.

Nợ xấu của ngân hàng mẹ VCB công bố trong Thuyết minh báo cáo tài chính năm 2011 là 2%, thấp hơn rất nhiều so với con số 3,8% tại thời điểm 30/9/2011, khoản nợ có khả năng mất vốn đã giảm từ hơn 5.000 tỷ vào quý 3/2011 xuống gần 2.300 tỷ vào cuối năm (có khả năng VCB đã đánh giá lại khoản nợ này, hoặc khoanh nợ hoặc tính vào dự phòng rủi ro tính dụng trong quý 4/2011). Tuy vậy, nợ nhóm 2 của VCB (nợ cần chú ý) đã tăng 13.300 tỷ trong năm 2011, cao hơn năm trước 82%.

Năm 2011, 9 ngân hàng trích lập 10.360 tỷ đồng dự phòng rủi ro tín dụng

Con số này tăng 69% so với năm 2010. Trong đó CTG trích lập nhiều nhất với 4.871 tỷ đồng, tiếp theo là VCB (3.387 tỷ).

Tiền gửi khách hàng tăng 142.000 tỷ so với năm 2010, mức tăng 18%

Tổng tiền gửi khách hàng của 9 NHTM niêm yết tại thời điểm 31/12/2011 đạt hơn 915.000 tỷ đồng, tăng 18% so với năm 2010. Trong đó tiền gửi khách hàng tại 3 ngân hàng lớn là CTG, VCB và ACB chiếm 69% (tiền gửi khách hàng của CTG đạt hơn 256.000 tỷ, chiếm 28%).

Tăng trưởng tiền gửi khách hàng năm 2011 của ngân hàng ACB, MBB, SHB đạt trên 30%, NVB đạt 54% trong khi tại STB và EIB lại giảm nhẹ.

Một thông tin khác cũng được nhiều người quan tâm là CTG, VCB đang là ngân hàng có thu nhập bình quân/đầu người thuộc nhóm cao nhất khối ngân hàng, trên 20 triệu đồng/tháng.

Phương Mai (CafeF)

 
 

Tags: , , , , , , , , , ,

[Khám phá] Những con ma hàng hiệu không nhà


Bạn hãy tìm chân dung  mình trong bài viết này, dù thực lòng tôi không mong bạn gặp được mình trong đó.

Trong buổi tiệc mừng khánh thành một tòa cao ốc ở trung tâm quận 1 (TP.HCM) tuần vừa rồi, xuất hiện cô con gái ông Tổng Giám đốc công ty Bất động sản X, chủ đầu tư tòa cao ốc đó. Cô nàng mặc áo đầm và mang giày của Elle, đeo chiếc vòng trang sức nhỏ của Catier, xài iPhone và cầm chiếc túi xách tay xinh xinh hiệu Louis Vuitton. Một cô nàng đồ hiệu từ trên xuống dưới!

Cô ta đi cùng với mẹ và ông bà ngoại. Thái độ thể hiện với gia đình lẫn nhân viên của bố cùng quan khách đều hết sức ngoan ngoãn, lễ phép – ngoại trừ việc cô ta liên tục hí hoáy với chiếc iPhone. Cô ta 12 tuổi , đang học lớp 6 ở một trường trung học cơ sở quốc tế, trước đó 2 giờ, cô còn ngồi làm bài thi học kì môn Toán ở trường.

Đấy là một chân dung tôi gặp ngẫu nhiên trong một buổi tiệc, là gương mặt tiêu biểu cho thế hệ hàng hiệu “thuần thành” đầu tiên” của Việt Nam: xài đồ hiệu, mà phải là những nhãn hiệu “nồng danh khét tiếng” của thể giới, từ mới lọt lòng mẹ (bao gồm từ chiếc bông ngoáy tai cho đến tới loại sữa uống). Khi lớn lên, thói quen tiêu dùng này đã trở thành lối sống của cô ta, chứ không chỉ như lứa cô bác, anh chị hiện nay: xài đồ hiệu là để khẳng định địa vị, để khoe của!

Cô bé này cũng là biểu trưng của lứa người Việt trẻ mang trong mình mối mâu thuẫn lớn giữa thu nhập và chi tiêu hiện nay: là những người có sức tiêu dùng mạnh nhất, “sộp” nhất trong xã hội dù bản thân chưa làm ra một đồng cắc nào.

Nhưng đối tượng chính trong bài viết này mà tôi muốn nói tới lại không phải là cô bé hàng hiệu 12 tuổi đó. 

 

Một cô gái 25 tuổi ngồi cạnh tôi là tín đồ hàng hiệu. Theo như danh thiếp cô đưa, nhìn vào vị trí và công ty nơi cô đang làm việc, tôi đoán mức lương của cô khó vượt qua con số 10 triệu đồng/ tháng. Thế nhưng chiếc túi LV cô xách theo bên mình đã nằm giá trên 2 ngàn “đô”, vị chi trên 50 triệu. Chưa kể áo đầm Gucci, giày dép, trang sức cùng những món lỉnh kỉnh khác cô mang theo trong chiếc túi xách tay…

Tôi không lạ lẫm với những cô gái như thế này, họ ngồi đầy trong các công sở hiện đại sáng đèn đêm ngày trong thành phố – những cô gái văn phòng có mức thu nhập trung bình. Họ thuộc nhóm quanh năm bóp bụng ăn mì gói gặm mì không uống nước lã. “tiêu diệt” hết mọi nhu cầu chi tiêu chỉ để dồn tiền mua một  món hàng hiệu “khủng”: chiếc túi LV, đôi giày Guccci, chiếc áo đầm Prada, món trang sức Catier, bộ đồ trang điểm, mỹ phẩm, nước hoa thuộc các nhãn hiệu “nói tên ra biết giá liền”. Cứ mỗi một món như vậy, họ cũng có được một bộ cánh hàng hiệu hoàn hảo từ đầu tới chân.

Nhưng đấy cũng chưa phải là đối tượng chính tôi muốn đề cập đến trong bài viết này. Nhóm này mới chỉ là những người “thu nhập trung bình tài sản không có gì” chỉ vì lỡ vướng vào cơn bùa mê hàng hiệu.  Đối tượng chính của bài viết này phải là những người trẻ sau đây: Những người thu nhập cao, tài sản nghèo. 

 

Bạn có thể hình dung một người 30 tuổi sống ở Sài Gòn , có mức nhập trên 30 triệu một tháng (anh ta đạt được mức thu nhập này từ 5 năm nay) nhưng cuộc sống của anh ta là thế này: Ở nhà thuê, ăn cơm quán, di chuyển hàng ngày bằng xe ôm/taxi, tài khoản thường xuyên trống rỗng hoặc đang trong tình trạng ghi nợ (tiêu trước trả sau).

Về ăn mặc, anh này theo “chủ nghĩa” quần áo che thân, miễn là lành lặn sạch sẽ tươm tất là được, không kể nhãn hiệu gì, xuất xứ từ đâu. Về ăn uống, thì nghiện mỗi món kem, còn nữa ăn gì cũng được, ăn đâu cũng xong. Và xin được nói rõ là anh ta không có gánh nặng trách nhiệm gia đình nào, cũng không có chứng bệnh mãn tính, nan y nào. Tất cả tiền anh ta làm ra chỉ được tiêu dùng cho bản thân anh ta, vào những sở thích của anh ta.

Viếng thăm nhà anh ta, một căn hộ cho  người độc thân rộng ngoài 30m2, thấy không có tài sản đáng giá, chỉ thấy những đĩa nhạc và đĩa phim cùng linh tinh sách. Những thứ văn hóa phẩm lành mạnh có đồi trụy có ấy chất cao tới nóc, muốn lấy cái đĩa nào chỉ mình anh ta biết chỗ và phải bắc thang.

Anh ta tên là Nguyễn K. làm giám đốc truyền thông của một nhà xuất bản, đồng thời là một tay làm PR có tiếng trong giới ca sĩ cả trong Nam lẫn ngoài Bắc, dù địa bàn hoạt động của anh ta chỉ  là ở Sài Gòn. Những băng đĩa sách vở trên  của anh ta toàn là xịn, đồ gốc, mua một phần để phục vụ cho nghề nghiệp, phần lớn hơn là vì sở thích.

 

Sơ qua cuộc sống của anh ta như vậy, có thể biết anh ta không phải là người tiêu xài hoang phí, ăn chơi vô độ. Vậy thì anh ta làm gì cho hết 30 triệu mỗi tháng?

Anh ta chơi! Cứ có tiền hoặc sắp có một khoản tiền (anh ta dùng thẻ ghi nợ) là anh ta lại đi nước ngoài (tham vọng của anh ta là khắp các nước trên thế giới xong rồi chết). Đi nước ngoài thì ưu tiên coi ngó tham dự các buổi biểu diễn nghệ thuật, thăm viếng các bảo tàng, lùng sục băng đĩa sách vở mình cần, mình quý. Cứ thế cho đến khi trong túi không còn xu nào ngoài chiếc vé khứ hồi thì ra sân bay là vừa.

Bạn bè cùng tuổi với anh ta, có người mức thu nhập thấp hơn, những đã vợ con đề huề, nhà cửa xong xuôi, tài khoản tiết kiệm trong ngân hàng đã lên đến chín, mười con số 0. Còn anh ta vẫn thế, mình trần thân trụi, không có gì ngoài những điều ghi dấu trong ký ức qua những chuyến chân đi mắt thấy tai nghe tay sờ.

Hỏi anh ta sao không để dành tiền mua lấy cái  nhà, an cư lạc nghiệp, anh ta trả lời: “Nhà cửa Việt Nam hiện nay quá đắt đỏ, đắt đến mức phi lý, hoang tưởng. Để có một cái nhà , dù là chả nên hồn vía gì, người ta phải chấp nhận hi sinh hầu hết mọi nhu cầu vật chất, tinh thần khác trong hai mươi năm, ba mươi năm của cuộc đời tuổi trẻ. Cái giá ấy tôi không chấp nhận được. Thà cứ mỗi tháng trích ra một phần thu nhập trả tiền nhà để được sống cuộc sống mà mình thích.”

Cũng là một quan niệm có lý và dễ lây lan. Vì thế mà nó khá phổ biến trong giới trẻ hiện nay, với những người có gốc ở tỉnh sống ở thành phố, không nhận được sự hỗ trợ tài chính từ bố mẹ cho những khoản mua sắm lớn như xe cộ, nhà cửa. Chắt bóp cũng không biết đến bao giờ mới mua được căn nhà, cái xe hơi, thôi thì tiêu béng đi cho xong, ai có sở thích gì thì tiêu tiền vào sở thích ấy. Quan trọng là họ không coi cuộc sống như thế là tạm bợ, mà xác định sẽ sống thế mãi.

Về hôn nhân, nhiều người trong nhóm này xác định sẽ không  kết hôn và sinh con. Tình nhân thì có, vợ thì không. Vợ có thể có, nhưng con thì không. Về bạn gái, yêu cầu đầu tiên của họ là tự đảm đương được những vấn đề chi tiêu của bản thân. Nghĩa là ngoài trách nhiệm với bản thân ra, họ không phải  mang vác trách nhiệm với bất kỳ người nào khác, cho dù yêu hay vì tình máu mủ. Mấy chữ “sống vì người khác”, “hi sinh cho người khác” không có trong từ điển của họ. Một đời sống có thể gọi là ích kỷ tuyệt đối – mọi sự cho mình, vì mình, không gì ngoài nhu cầu của mình.

Khi hỏi tiếp vì sao anh ta không dành một khoản tiền tích lũy nào đó phòng khi đau ốm, tai nạn, thất nghiệp, suy thoái kinh tế…anh ta trả lời: “Bây giờ kiếm được chừng ấy thì tiêu chừng ấy. Mai sau kiếm được nhiều hơn tiêu nhiều hơn. Cùng lắm không kiếm được nữa, đến mình, thì “đòm” một phát là xong chứ gì”. Suy nghĩ của anh ta hoàn toàn không cá biệt. Không “ép xác” hiện tại chỉ vì tương lai, không dè sẻn chút ít trong hiện tại cho tương lai, tất cả là cho cuộc sống hiện tại, hưởng thụ trong hiện tại…không vì có một niềm tin tưởng lớn vào nền kinh tế sẽ ngày càng phát triển, đời sống cá nhân sẽ ngày càng thịnh vượng, mà đơn giản chỉ vì “sống là không chờ đợi”, “sống là không hi sinh”.

Cuốn phim mới nhất của đạo diễn Charlie Nguyễn có tên: “Để mai tính”rất được lòng giới trẻ. Họ đi xem và hào hứng bình luận với nhau trên mạng lẫn ngoài đời. Không đề cập đến nội dung cuốn phim, riêng cái tựa  “Để mai tính” của nó đã nói lên tinh thần sống, cách sống của giới trẻ hiện nay.

Chuyện gì mai đến thì mai tính. “Lo từ khi trời chưa mưa” là tinh thần sống của thế hệ trước, thế hệ “ăn bữa hôm lo bữa mai”, không phải cách nghĩ của thế hệ này. Những chàng trai, cô gái ra đời sau chiến tranh, được đào tạo bài bản, có công việc tốt thu nhập cao, trưởng thành trong xã hội tiêu thụ, họ sống trong tinh thần tạm gọi là Tinh thần “No fear!”(Cóc sợ). Họ có niềm tin chắc chắn rằng “hôm nay tốt hơn hôm qua, ngày mai lại còn tốt hơn nữa”, nên kiếm được bao nhiêu xài hết bấy nhiêu là cách chi tiêu của họ.

Trâm là một cô gái 30 tuổi, đang giữ chức Giám đốc PR của một tập đoàn dược phẩm quốc tế có chi nhánh tại Việt Nam. Năng lực cá nhân  cộng với bằng cấp tốt (cô được đào tạo chuyên ngành tại Pháp và Bỉ) đã cho cô một công việc trong mơ cùng với mức lương trong mơ (chưa kể chế độ chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng, du lịch, đào tạo ngắn ngày ở Châu Âu cũng trong mơ luôn).

Mức lương trong 5 năm qua của cô đi từ 1.500 “đô” đến 2.500 “đô”. Nếu cô có một kế hoạch chi tiêu và tích lũy tốt cùng với chế độ hỗ trợ cán sự cấp cao của công ty, bây giờ Trâm đã dư sức có căn hộ cao cấp, xe hơi riêng, tài khoản kha khá.

 

Nhưng trên thực tế, “tài sản” của Trâm hiện nay chỉ là mấy tủ quần áo đồ sộ, bộ sưu tập giày lên đến hơn một trăm đôi, vô số các món đồ nội thất tinh xảo lẫn kỳ quái cô khuân về từ khắp mọi nơi trên thế giới. Trâm vẫn cứ ở nhà thuê, chạy xe máy và nhong nhóng chờ đến cuối tháng để nhận lương đi sắm những món đồ cô đã “chấm” từ cách đó mấy tuần.

Hỏi sao không dành tiền mua nhà hoặc mua nhà trả góp, cô bảo: “Thằng nào cưới mình thì phải lo nhà cho mình ở chớ. Mình là con gái mà, mắc mớ chi phải lo những chuyện to tát đó!?”. Trâm là một đại diện của những người Thu nhập cao, tài sản nghèo. Cơn sốt mua sắm không giới hạn, sống để mua, mua để sống, đi du lịch là để mua sắm “cày chết bỏ” là để kiếm thêm tiền  mua sắm, đặc biệt là cơn sốt trưng bay hàng hiệu, biến mình thành một chiếc giá treo móc hàng hiệu đã rút kiệt của họ từ đồng đầu tiên đến đồng cuối cùng trong chiếc thẻ ATM vào mỗi kỳ trả lương.

Những tín đồ hàng hiệu này không chỉ là các cô gái. Các chàng trai, đặc biệt là những chàng trai đồng tính, cũng là những tín đồ cuồng nhiệt, họ sẵn sàng ghi nợ ngân hàng lên đến hàng trăm triệu đồng chỉ để thỏa cơn khát hàng hiệu của mình. Không nói ra, nhưng họ đang có chung một suy nghĩ: Bằng cách “trang bị” hàng hiệu đến tận răng như vậy, thì bản thân họ cũng trở thành một thứ hàng hiệu – “hàng hiệu sống”.

Họ quên rằng, bản thân mỗi người để được xem là  một thứ “hàng hiệu sống” thì không thể thiếu khí chất nội tại, giá trị nội tại của bản thân. Quần áo có thể tạo nên dáng vẻ sang trọng đôi phần, nhưng không thể có giá trị thay thế. Hàng hiệu là những vật đánh dấu địa vị xã hội trong xã hội Châu Á,nhưng không thể thay thế địa vị thực được thể hiện bằng chức vụ và tài sản. “Những con ma hàng hiệu không nhà” là cách gọi vui mà bạn bè thường tặng cho các tín đồ của “tôn giáo hàng hiệu” đang làm mưa làm gió ở các nước Châu Á ngày nay. 


Lý giải về sự mua sắm hoang phí, vô độ của người Việt trẻ ngày nay (trong đó có cả một bộ phận người Việt trung niên) có khi phải quay về quá khứ, trở lại thời kỳ lịch sử đói nghèo của dân tộc Việt. Sự nô dịch hóa kéo dài hàng năm đã tạo nên một xã hội bần cùng nghèo khổ (lao động nặng nhọc, kiếm được ít tiền hoặc hầu như không có tiền, phẩm giá con người bị hạ thấp). Những gì nghèo khổ đã gây nên là tạo ra một khao khát ném chặt, một ham muốn nén chặt, một giấc mơ, dù có thể xa xôi và khó đạt được tới đâu đi chăng nữa.

Khi có tiền cái ước muốn nén chặt đó bùng lên dồn dập và khao khát đó đòi được đáp ứng. Xã hội Việt Nam hiện nay đang ở vào thời kỳ “bắt đầu có tiền” (nền kinh tế tăng trưởng và người dân lần đầu có tiền). Thế là lao vào thỏa mãn ham muốn tiêu dùng, mua sắm bao nhiêu năm bị đè nén của mình và người thân. Những người Việt ở trong độ tuổi trên dưới 30 hiện nay đều ít nhiều có phần tuổi thơ gắn với quá khứ đói  và nghèo. Khi họ bắt đầu có tiền thì việc đầu tiên là họ chi dùng nó cho những giấc mơ tuổi thơ, tuổi teen đã không được thỏa mãn vào thời điểm đó. Với những đứa con chí hiếu, thì họ tiêu phần lớn số tiền kiếm được cho những giấc mơ vật chất của bố mẹ, anh em họ.

Có một điều khác cơ bản của thể hệ này với những thể hệ trước, là thể hệ trước có ít tiền, nhưng áp dụng chiến thuật kiến tha lâu đầy tổ, cuối cùng họ vẫn có tài sản (thay vào đó họ có toàn tiêu sản và đồ vật). Thu nhập cao, nhưng không nhà, không tiền tích lũy, không mua bảo hiểm, họ chỉ cần thất nghiệp một vài tháng là lập tức phải mò lên tòa soạn báo Mua & Bán để rao lên thảm thiết: Để lại với giá rẻ 1 iPhone, 1 Macbook, nhiều đôi giày và váy áo còn trong tình trạng sử dụng cực tốt, tất cả đều là hàng hiệu “khủng”.

 

Và tôi muốn kết thúc bài viết này tại đây, dù như thế xem ta có phần hơi bi đát!

•   Anh Minh
(Bài viết đăng trên báo Người Đẹp Việt Nam)

 
Leave a comment

Posted by on 02/08/2012 in Khám phá

 

Tags: , , , , , , ,

[Ngân hàng VIỆT NAM] Trần lãi suất 14%: Công cụ của “Trò chơi thanh khoản”


Dường như việc áp dụng trần lãi suất của NHNN chỉ là công cụ nhằm thúc đẩy quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, buộc các NHTM yếu thanh khoản phải chấp nhận tái cấp vốn từ NHNN để tồn tại.

Vào đầu tháng 12/2011, khi sự kiện hợp nhất đầu tiên diễn ra với 3 ngân hàng thương mại Ficombank, TinNghiaBank, SCB thì hiện tượng phá trần lãi suất lại tái hiện. Tuy kín đáo hơn thời gian trước đó nhưng cũng bắt đầu xuất hiện tính không giới hạn về phạm vi tác động.

Một sự trùng hợp về thời điểm giữa hai sự kiện trên chăng? Song nếu là trùng hợp ngẫu nhiên thì tại sao lại diễn ra một chuỗi vận động có tính hệ thống: tình trạng thiếu hụt trầm trọng về thanh khoản của 3 NH Ficombank, TinNghiaBank, SCB trước khi chính thức hợp nhất, và trần lãi suất huy động 14%/năm đã chính thức bị “phá bỏ” trong ít nhất hai tháng qua?

Những trò chơi độc đáo luôn có đặc điểm là ngay cả người tham gia cũng không thể biết rõ là mình đã bị biến thành trò chơi của người khác. Có lẽ trò chơi chỉ được định hình nét độc đáo của nó khi những người tham gia suy ngẫm lại đường đi của trò chơi này.

Trần lãi suất : khởi đầu của trò chơi

Vào tuần cuối tháng 8/2011, trong bối cảnh chỉ số lạm phát bắt đầu có xu hướng giảm sau khi lập đỉnh trong năm, lần đầu tiên kể từ khi nhậm chức thống đốc, Nguyễn Văn Bình đã nêu khả năng về phương án giảm lãi suất.

Trước đó, như tất cả chúng ta còn nhớ, lãi suất huy động đã bị biến thành một cái “chợ”, bất chấp Thông tư 02 của NHNN quy định mức trần 14%/năm từ những tháng đầu năm 2011. Rất mau chóng, lợi ích của từng ngân hàng thương mại là trên hết. Tình hình khó khăn về vốn đã khiến đa số ngân hàng thương mại lao vào cuộc đua cạnh tranh huy động vốn từ khách hàng. Từ đó, lãi suất huy động đã nhảy vọt lên mức 19-20%, thậm chí 21%. Hệ quả quá lớn của cái “chợ” hỗn tạp này là mặt bằng lãi suất cho vay đã bị chính các ngân hàng thương mại đẩy lên đến 25-27%.

Kỷ cương và tính nghiêm minh trong điều hành lãi suất của NHNN cũng vì thế đã tiệm cận với trục hoành, nếu ai đó tổ chức một cuộc khảo sát bỏ túi. Nhưng cuộc cách mạng về kỷ cương lãi suất đã với chỉ thị 02 đã thiết lập lại trần lãi suất huy động 14%/năm.

Lần đầu tiên sau nhiều tháng, “chợ lãi suất” đã được bình ổn giá đầu vào. Cũng lần đầu tiên sau nhiều tháng, lời nói đã đi đôi với việc làm trong ngành ngân hàng. Chỉ một ngày sau Chỉ thị 02, NHNN đã có thống kê chính thức về tình hình tuân thủ lãi suất huy động và lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Hai ngày sau Chỉ thị 02, cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng – NHNN Việt Nam đã kiểm tra đột xuất một số TCTD tại Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Ninh Bình và TP.HCM có dấu hiệu vi phạm lãi suất huy động trên 14%/năm. Chỉ một tuần sau Chỉ thị 02, hai Ngân hàng DongABank và Agribank đã bị xử lý nghiêm khắc do chi nhánh của những ngân hàng này vi phạm trần lãi suất 14%/năm.

Một tháng sau Chỉ thị 02, một sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa Thanh tra NHNN với Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công An đã được thao tác trong việc kiểm tra chi nhánh Tân Bình của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển TP.HCM (HD Bank). Kết quả, như mọi người đều biết, án phạt rất nặng. Thậm chí, án hình sự còn treo lơ lửng trên đầu HD Bank. Niềm tin xã hội được tái gia cố. Các doanh nghiệp khấp khởi mong chờ cái thòng lọng được tháo bỏ. Hy vọng cho sự tái phục hồi từ đình đốn kinh tế lại hé rạng.

“Cuộc cách mạng” tiếp theo: Thanh khoản

Vào đầu năm mới 2012, trong một hội nghị ngành ngân hàng, Giám đốc một chi nhánh ngân hàng đã thừa nhận: “Trên thực tế, kỷ cương lãi suất huy động trên thị trường ngân hàng chỉ giữ được từ ngày 7/9 đến hết tháng 9/2011. Còn từ tháng 10/2011 đến nay, đặc biệt là tháng 12/2011, thị trường ngân hàng đang phải chịu đựng tình trạng mặc cả lãi suất, song không dễ phát hiện, không dễ tố cáo”.

Tuy không dễ phát hiện, nhưng những ngân hàng lớn có thói quen tuân thủ quy định về trần lãi suất huy động, đã lại bức xúc khi phải “tố cáo” mức lãi suất thỏa thuận” đang có chiều hướng tiệm cận mốc 20% tại một số ngân hàng  nhỏ. Còn trên “mặt trận” lãi suất cho vay, trên thực tế chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp đạt được mơ ước “tiếp cận nguồn vốn vay giá rẻ” ở mức lãi suất 15-16%/năm.

Cũng trên thực tế, niềm tin xã hội lại một lần nữa rơi vào trạng thái thất vọng. “Cuộc cách mạng” về lãi suất của NHNN đã không hoàn tất cái kết cục cần có của nó. Thay vào đó, cuộc cách mạng này lại rơi vào chủ nghĩa “chiết trung” (dừng ở đoạn giữa). Án phạt đối với HD Bank cũng đánh dấu thành công cuối cùng của chiến dịch Chỉ thị 02. Sau khi đã không có một án hình sự nào cho ngân hàng vi phạm này, một “cuộc cách mạng” khác đã diễn ra mà không cần sự tuyên bố.

Từ giữa tháng 10/2011, đột nhiên lãi suất liên ngân hàng trong thị trường II tăng mạnh. Ban đầu mức tăng đến 16% đã được xem là khá cao. Nhưng sau đó, lãi suất liên ngân hàng đã tái hiện hình ảnh của chỉ số lạm phát với mức tăng đến 23%. Thậm chí có thời điểm đến 30%. Một sợi dây thòng lọng khác được thắt nút, nhưng lần này không phải với doanh nghiệp, mà nhắm đến chính một số ngân hàng thương mại nhỏ. Đó cũng là những ngân hàng bị xem là yếu kém, bị dư luận nhỏ to đồn đoán về một danh sách “đen” nào đó của NHNN chứa đựng những ngân hàng như thế.

Tình hình trở nên hỗn loạn trên thị trường liên ngân hàng trong suốt tháng 10/2011. Hàng loạt ngân hàng thương mại nhỏ, dù trước đó chưa từng kêu ca về chuyện “thỏa thuận” lãi suất huy động với khách hàng, lại buộc phải kêu thét về cái giá cắt cổ mà họ phải đi vay từ các ngân hàng lớn.

Một chuyên gia ngân hàng và cũng là thành viên của Hội đồng tư vấn chính sách tài chính và tiền tệ quốc gia, ông Trần Hoàng Ngân – vào thời điểm đó đã đánh giá: tác động điều chỉnh của NHNN tăng lãi suất tái cấp vốn từ 14% một năm lên 15%, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14% lên 16% mỗi năm, áp dụng từ ngày 10/10 cũng là một nhân tố đẩy lãi suất liên ngân hàng dâng cao. Và một khi lãi suất liên ngân hàng đã tăng cao thì nó cũng giống như cơn bệnh đã lộ ra, tức dấu hiệu lâm sàng của căn bệnh thiếu thanh khoản.

Có nhiều lý do để giải thích cho tình trạng “bất ngờ” thiếu hụt thanh khoản của một số ngân hàng thương mại. Nhưng về mặt thời điểm, rõ ràng chỉ từ khi NHNN tăng lãi suất tái cấp vốn, những ngân hàng bị liệt vào loại “có vấn đề” mới thật sự phải đối mặt với chọn lựa sinh tồn. Được “lựa chọn” đầu tiên, vấn đề tồn vong của 3 ngân hàng thương mại Ficombank, TinNghiaBank, SCB không phải gì khác hơn là cơn khủng hoảng thanh khoản.

Trò chơi mới chỉ bắt đầu

Sau trung tuần tháng 10/2011, một sự bất ngờ nữa lại xảy đến khi NHNN nêu ra bốn quan điểm về tái cấu trúc hệ thống – nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong những năm tới. Và NHNN cho rằng, “Sáp nhập ngân hàng là xu hướng tất yếu”. Chỉ một tuần sau, bài toán xử lý những kẻ đói ăn đã được giải quyết phần nào: 5 hoặc 6 ngân hàng, mỗi ngân hàng sẽ được NHNN tái cấp vốn từ 1.000 đến 5.000 tỷ đồng, và đương nhiên các khoản tái cấp vốn này đều được gắn kèm với điều kiện ngặt nghèo của nó.

Rất có thể, trước đó những ông chủ của các ngân hàng “có vấn đề” đã không thể hình dung họ bị đẩy vào một tình thế buộc phải “ngửa tay xin bố thí”. Nói cách khác, họ đã không thể biết “trò chơi thanh khoản” được hình thành như thế nào. Kết cuộc của trò chơi này chỉ được nhận ra khi mọi sự đã an bài, khi phần thắng chắc chắn đã nằm trong tay kẻ cầm chịch.

Viết Lê Quân (VEF)

Bonus: THANH KHOẢN LÀ GÌ?

Thanh khoản ngân hàng (Liquidity) là khả năng chuyển đổi thành tiền mặt của các tài sản của ngân hàng đó. Tiền mặt chính là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, sau đó là các giấy tờ có giá như trái phiếu chính phủ, trái phiếu kho bạc ….

Quản lý thanh khoản là một trong những hoạt động quản trị rủi ro quan trọng nhất của các ngân hàng. Mục tiêu của quản lý thanh khoản là luôn duy trì một lượng tiền mặt “hợp lý”, không ít, không nhiều, đảm bảo người gửi tiền có thể rút tiền mặt vào bất cứ lúc nào.

Thời gian vừa qua, một số ngân hàng mất thanh khoản nghiêm trọng, tức là không còn tiền mặt trong tủ, không  giải ngân được các hợp đồng cho vay theo đúng hạn, khách đến rút tiền không rút được …. Các ngân hàng này phải vay trên thị trường mở (thị trường liên ngân hàng) hoặc vay trực tiếp ngân hàng nhà nước để đảm bảo thanh khoản tạm thời, tránh đổ vỡ.

(Zonzon)

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

Thanh khoản là gì?

 
 

Tags: , , , , , , , , , , , , , , ,

[Ngân hàng VIỆT NAM] PHÍA SAU 2,8 TRIỆU TỈ ĐỒNG VỐN


Phía sau sự phân bổ miếng bánh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng vốn là cuộc đua quyết liệt và khó khăn của các ngân hàng thương mại. Sau lợi nhuận, dữ liệu lần lượt công bố cho thấy nhiều ngân hàng thương mại năm rồi không đạt được chỉ tiêu huy động vốn. Khó khăn này rơi vào cả những ngân hàng hàng đầu trên thị trường.

picture

“Vũ khí” chủ lực

Từ đầu tháng 2 này, Ngân hàng Quân đội (MB) bắt đầu triển khai chương trình khuyến mại lớn nhất trong các gói kích thích huy động vốn của mình từ trước tới nay, quy mô lên tới 8 tỷ đồng.

Đó cũng là quy mô mà nhiều nhà băng khác liên tục tung ra trong khoảng cuối năm 2011 trở lại đây, thậm chí còn lớn hơn nhiều. Đơn cử như Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) liên tiếp hai “gói” quy mô quanh 9 tỷ đồng; Ngân hàng Việt Á (VietABank) có chương trình lên tới 15 tỷ đồng; Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) ngay khi đi vào hoạt động sau hợp nhất cũng có chương trình thuộc nhóm quy mô lớn nhất hiện nay với 32 tỷ đồng…

Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại, thông thường, thời điểm cuối năm cũ đầu năm mới là cao điểm vận động của các dòng tiền gửi. Lượng tiền đáo hạn, chi trả cho các nhu cầu thanh toán lớn và tập trung, song dòng chảy trở lại sau đó cũng thể hiện rõ. Tập trung thu hút vốn là yêu cầu để cân đối trong mùa cao điểm, trong đó khuyến mại là một trợ lực cần thiết.

Nếu từ năm ngoái trở về trước, dễ nhận thấy quy mô khuyến mại “khủng” chỉ thường có ở những ông lớn, điển hình như những chương trình từ 30 – 33 tỷ đồng dồn dập tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV). Nhưng từ cuối năm 2011 đầu 2012 này, thị trường chứng kiến sự cạnh tranh mạnh hơn ở khối cổ phần, xét về quy mô khuyến mại.

Tăng cường khuyến mại, chạy đua khuyến mại là yêu cầu nổi bật, khi mà công cụ kinh điển nhất là lãi suất đã bị hạn chế. Cơ chế trần lãi suất huy động đã và đang triệt tiêu lực hấp dẫn của lãi suất trong so sánh giữa các ngân hàng. Thêm đó, lợi thế của những ngân hàng lớn về thương hiệu, mạng lưới càng kích thích sự gia tăng quy mô khuyến mại để có thể cạnh tranh từ các ngân hàng nhỏ…

Lúc này, dường như khuyến mại, đẩy mạnh khuyến mại đang là một “vũ khí” chủ lực trong huy động vốn.

Khan đầu vào, khó đầu ra

Theo số liệu của một đơn vị chuyên trách của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 10/2011, huy động vốn trên thị trường 1 của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đạt trên 2,8 triệu tỷ đồng.

Trong suốt những năm qua và hiện nay, tỷ trọng miếng bánh huy động đó một phần lớn vẫn thuộc về khối quốc doanh, những ngân hàng có quy mô mạng lưới trải rộng, có “lợi thế” trước hiệu ứng thông tin tái cấu trúc… Tuy nhiên, sự lớn mạnh của khối cổ phần cũng đang tạo một sự dịch chuyển rõ nét.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tại thời điểm cuối năm 2007, các tổ chức tín dụng nhà nước nắm giữ tới 59,5% thị phần. Đáng chú ý là nhóm này chỉ bao gồm có 6 thành viên (Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank, MHB và Ngân hàng Chính sách xã hội). Còn lại là các khối cổ phần, nước ngoài và tổ chức tín dụng khác.

Thế nhưng, từ năm 2008 đến nay, cơ cấu miếng bánh thị phần đã có nhiều thay đổi với sự lấn sân nhanh của khối cổ phần. Đến cuối năm 2008, thị phần huy động vốn của khối quốc doanh đã giảm xuống còn 57,1%, trong khi khối thương mại cổ phần đã tăng lên 33,1%. Đến cuối năm 2009, tương ứng là thay đổi 49,7% và 40,8%. Và thống kê gần nhất là cuối tháng 10/2011, khối cổ phần đã chính thức chiếm ngôi đầu với thị phần lớn nhất là 45,2%, trong khi nhóm quốc doanh chỉ còn lại 43,8%, khối nước ngoài chiếm 7,5%.

Bên cạnh sự cạnh tranh huy động vốn trong miếng bánh chung đó, các ngân hàng cũng đang đối mặt với khó khăn ở yêu cầu cân đối giữa vốn huy động và cho vay. Trên bình diện chung, sự cân đối đó đang bị đẩy đến giới hạn. Theo dữ liệu của một tổ chức đầu tư đưa ra mới đây, đến cuối năm 2011, lượng tín dụng của hệ thống là 2,524 triệu tỷ đồng, trong khi tổng vốn huy động là 2,514 triệu tỷ đồng. Nếu tham khảo những con số này thì lượng tín dụng của hệ thống đã vượt trên lượng vốn huy động.

Một dữ liệu khác của đại diện một cơ quan giám sát đưa ra mới đây cũng cho thấy, kể từ sau khi rào cản giới hạn tỷ lệ cho vay trên huy động trong Thông tư 13 được dỡ bỏ, thị trường chứng kiến sự gia tăng đáng lo ngại. Giới hạn trước đó trong Thông tư 13 là 80% và 85% (theo nhóm ngân hàng hoặc công ty tài chính), nhưng tại nhiều thành viên đã lên tới 90%, thậm chí tới 100% hoặc cao hơn. Hay như cách nói của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước mới đây là có những ngân hàng thời gian qua huy động được bao nhiêu thì cho vay bấy nhiêu, khi huy động khó khăn, mất cân đối kỳ hạn dẫn tới khó khăn thanh khoản…

Khoảng cách giữa vốn huy động và cho vay bị thu hẹp cũng xuất phát từ thực tế suốt từ năm 2005 đến nay, ngoại trừ năm 2010, tăng trưởng tín dụng của hệ thống luôn cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn. Sự “tích lũy” trong một thời gian dài như vậy dẫn đến thực tế bất lợi trong cân đối vốn huy động và cho vay của hệ thống, hay thực tế là tăng trưởng tín dụng đã không thể đẩy cao trong năm 2011 vừa qua (chỉ 10,9% trong khi giới hạn chỉ tiêu là dưới 20%); hay tại nhiều nhà băng tăng trưởng tín dụng năm rồi đạt rất thấp, thậm chí âm…

Cân đối đang bất lợi như vậy nên có thể thấy trong năm qua, cũng như năm nay, tại nhiều ngân hàng yêu cầu hàng đầu là phải cơ cấu lại tín dụng, tập trung đẩy mạnh huy động, thu hồi nợ hơn nữa thay vì đẩy mạnh cho vay. Tình thế này khó xoay chuyển trong ngắn hạn, ngoại trừ có sự tăng trưởng đột biến của cung tiền – điều rất khó xẩy ra.

Minh Đức (Vneconomy)

Hình ảnh chỉ mang tính minh họa

Thị phần huy động vốn 2012

Thị phần huy động vốn 2012

Thị phần huy động vốn 2012

Thị phần huy động vốn 2012

Thị phần huy động vốn 2012

 
 

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

[Phan Thế Hải] Golf bần nông


1. GOLF BẦN NÔNG

Khi xắn quần lội vào sân golf, tôi mới phát hiện ra một điều, ở môn thể thao cao cấp này còn có một tầng lớp khác: Golf bần nông, đích thực, đúng nghĩa.

Bài khác cùng chuyên mục:

Một góc nhìn khác về ẤN ĐỘ

Trung Quốc và tư tưởng sùng binh

Khám phá “Tứ trấn Thăng Long”

Nhìn lại ngày tổng thống Mỹ Kennedy bị ám sát

Nói đến golf, người ta nghĩ ngay đến đó là sân chơi của các đại gia, những kẻ lắm tiền nhiều thời gian mới có điều kiện tham gia sân chơi đắt đỏ này. Tuy nhiên, khi xắn quần lội vào sân golf, tôi mới phát hiện ra một điều, ở môn thể thao cao cấp này còn có một tầng lớp khác: Golf bần nông, đích thực, đúng nghĩa.

Ngày đầu xuân, gọi điện cho ông bạn đồng nghiệp lâu ngày không gặp, tính chuyện trao đổi dăm câu ba điều cập nhật thông tin. Đầu dây bên kia, giọng hắn khẽ khàng: em đang ở sân golf, chiều em gọi lại cho bác nhé. Đúng hẹn, chiều hắn gọi lại cho tôi, thanh minh thanh nga rằng, lúc tôi gọi, hắn đang setup cho một cú putt trên green, nếu thành công, hố đó hắn được birdie, thế là có thóc rồi. Tôi hỏi: bao nhiêu, trả lời, tuỳ theo từng hợp đồng, thường là dăm lít. Ông trở thành đại gia từ bao giờ thế mà có tiền chơi golf? Chúng nó có tiền mới chơi golf, còn mình chơi golf để kiếm tiền. Golf bần nông.

 

Nghe hắn nói, thấy ngon ăn, tôi không khỏi tò mò đành xin hắn một cái hẹn để tìm hiểu về một thằng đồng nghiệp, từ chỗ ngày ngày cày xới trên từng trang viết, nay chuyển nghề, lấy sân golf làm đồng ruộng, cày xới và thu hoạch trên mảnh đất tưởng như chỉ dành cho các đại gia hào nhoáng bóng lộn.

Cách đây hai năm, tôi gặp hắn ở sân golf Đồng Mô. Hôm đó có giải golf nhân ngày doanh nhân VN do VCCI tổ chức. Chúng tôi có mặt với tư cách là phóng viên đưa tin. Sau khi các golfer bắt đầu chinh phục các hố, chúng tôi lang thang quanh Clup house chờ đợi kết quả và ngẫm nghĩ cách đưa tin. Hắn bảo tôi: vào kho mượn gậy vụt mấy quả chơi. Ý tưởng hay, tôi tán đồng. Khi viết về golf mà mình không biết cảm giác của người cầm gậy thì khó mà sinh động được.

Hơn thế, một trò chơi được hàng triệu người đam mê mà mình chưa chưa giải mã được một cách thoả đáng càng kích thích trí tò mò của một người làm báo. Rồi tôi và hắn cùng cầm gậy. Vẫn tưởng như cách cầm cày cầm cuốc như thuở hàn vi, cứ cầm cứ vụt, gậy cuốc xuống đất, bay đi từng mảng cỏ, quả trúng quả hụt, bóng bay tứ tung, có quả rơi ngay trước mặt. Vụt một lúc, mồ hôi vã ra như tắm mà quả bóng thì chẳng bay theo ý muốn của mình, tôi thấy trò chơi này chẳng thú vị gì.

Chiều hôm đó, sau khi kết thúc các vòng đấu, ban tổ chức thu score card, tổng hợp kết quả, công bố các giải, tôi viết một cái tin nhỏ đưa lên báo. Với tôi, đó là tất cả những gì kỷ niệm về một giải golf giành cho doanh nhân còn với hắn thì không. Về nhà, hắn viết một bài khá hoành tráng, chi tiết về việc các golfer chinh phục các hố đấu, những người đoạt giải ở các nhóm, rồi những giải phụ như longest, nearest… Cũng theo hắn, từ đó, hắn lên mạng, tìm kiếm tất cả những thông tin về golf, từ luật chơi, đến kỹ thuật chơi, rồi các tay golf nổi tiếng.

Không chỉ tìm kiếm các file tex, hắn còn tìm các file video trên You Tube, nghiên cứu các động tác của các golfer nổi tiếng như Tiger woods, Greg Norman, Clarke Wins, rồi tập nguội với… cán chổi. Mỗi buổi sáng thức dậy, việc đầu tiên của hắn là khởi động, rồi cầm cán chổi vung lên vung xuống như người cuốc đất. Thấy hiện tượng lạ, vợ hắn lo lắng rồi phải buột miệng hỏi: ông có làm sao không đấy, tính đổi nghề về chăn bò hay sao mà lúc nào cũng cầm gậy khua khua trông phát khiếp?

Hắn đáp: không phải là chăn bò mà là chăn cừu. Rồi hắn lý giải thêm: golf được khởi đầu bằng trò chơi của những người chăn cừu. Lùa đàn cừu ra thảo nguyên mênh mông, khi cả đàn cừu ung dung gặm cỏ thì những người chăn cừu giết thời gian bằng cách cầm gậy lùa những hòn sỏi tròn như quả trứng vào lỗ. Càng ít lần chạm sỏi càng tốt. Trò chơi này cứ thế phát triển. Một số nhà quý tộc được trưởng thành từ những người chăn cừu đã có sáng kiến làm quả bóng bằng ngà voi và chiếc gậy gỗ có đầu bịt sắt, rồi thiết kế các hố ở cự ly khác nhau. Cứ thế môn golf được người Anh hoàn thiện dần rồi lan toả sang các nước châu Âu, châu Mỹ rồi được loài người thừa nhận như ngày nay.

Gọi là golf bần nông vì tôi đang chơi golf theo đúng nghĩa của những người nông dân nghèo, không dư dả về tiền bạc và thời gian. Chơi golf như một cách để thoả mãn niềm đam mê, bảo dưỡng sức khoẻ với chi phí thấp, không những thế, chơi golf cũng là cách điều tiết thu nhập, lấy của thằng miền xuôi, nuôi thằng miền ngược. Người ta thừa tiền ra sân golf để tiêu cho vợi bớt túi tiền, mình thiếu tiền, ra sân golf để tận thu những khoản tiền thừa ấy.

Nghe ông nói ngon ăn vậy, nhưng kiếm tiền trên sân golf bằng cách nào? Ở Tây thì khỏi bàn, những golfer chuyên nghiệp tham gia các giải đấu, rồi trở thành ngôi sao, rồi làm đại diện thương hiệu cho các hãng thời trang thể thao… rồi thu tiền bản quyền truyền hình, rồi trở thành tỷ phú như Tiger Woods, như Miyazato… còn ở xứ ta, làm gì có chuyện đó.

Tây kiếm tiền theo kiểu tây, ta kiếm tiền theo kiểu ta, thế mới gọi là golf bần nông. Thôi chuyện này để tôi nói sau nhé, giờ tôi có hẹn, phải ra sân tập, hướng dẫn cho một vài đại gia đang tập golf. Dĩ nhiên, đó cũng là một cách kiến tiền, hẹn gặp ông vào hôm khác. Nói rồi, hắn phủi đít đứng dậy, hắn ra về rồi mà tôi vẫn bâng khuâng một điều: golf bần nông, một thuật ngữ mới với đầy uẩn khúc.

Dẫu sao thì chuyện hắn từ một thằng phóng viên hằng ngày nhẵn mặt đi họp, được cái phongs bì thì sướng rơm, giờ đây, hắn đã trở thành một golfer, chững chạc đàng hoàng, kiếm tiền trên các sân golf  khiến các đại gia phải tâm phục khẩu phục. Mấy ai đã làm được điều đó.

2. KIẾM TIỀN TỪ GOLF

Sân golf được coi là nơi tập trung của tầng lớp tinh hoa của đất nước. Ở đó, cùng với các chính khách cao cấp, là các doanh nhân thành đạt, các đại gia thiếu gia mà với không ít người, ngay chỉ việc tiêu cho vợi bớt túi tiền cũng là một vấn đề. Để nhập môn được môn thể thao hoàng gia mà không có tiền tỷ buộc phải có cách tiếp cận theo kiểu bần nông.

Theo lời khuyên của hắn, tôi cũng ra sân tập ở Gia Lâm, vừa để mục sở thị xem các golfer tập tành ra răng. Hơn thế là tìm hiểu sâu hơn về khái niệm golf bần nông ở xứ ta. Khác với các môn thể thao khác, với golf, sân tập nhỏ, gọn, chỉ dùng để tập, còn sân golf đích thực phải rộng hàng trăm héc ta. Đó là một vùng bình nguyên mênh mông với thảm cỏ xanh mướt được chăm sóc kỹ lưỡng, với hồ nước, rừng già và cả những bẫy cát thử thách sự chính xác của các cú đánh.

Sân nhỏ như Đầm Vạc, Sóc Sơn thường là 18 hố diện tích chiếm đất cỡ trăm ha, vốn đầu tư cỡ dăm trăm tỷ đồng. Sân lớn có thể là 36 hố, 54 hố hoặc lớn hơn, diện tích phải vài ba trăm héc, vốn đầu tư cả ngàn tỷ đồng. Với sân tập, quy mô chỉ cỡ vài héc ta, chủ yếu là các làn tập trong nhà với khay bóng để các golfer đánh bóng ra thảm cỏ. Hắn ra sân, thường là để hướng dẫn kỹ thuật cho một tay golf nào đó mới nhập môn. Sau khi chỉ dẫn cho học trò, nào là setup tư thế, động tác swing, tư thế tay, chân, đầu cổ ra răng, chỗ nào đúng, chỗ nào sai, cần phải sửa chỗ nào… hắn mời tôi ngồi uống nước ở Club house để giảng giải về câu chuyên golf bần nông còn dang dở từ hôm trước.

Theo hắn, sân golf đầu tư lớn như vậy, nên các chủ đầu tư thường huy động vốn từ những người mê golf bằng cách phát hành thẻ hội viên (members). Với những sân trung lưu như Chí Linh hay Tam Đảo, thẻ member đang có mức giao dịch từ hai đến ba chục ngàn đô. Với những sân cao cấp như Kim Nỗ hay Thủ Đức, giá thẻ lên tới hơn trăm ngàn đô. Nghĩa là để trở thành member, phải bỏ tiền tỷ. Đó là chưa nói đến chuyện để chơi golf phải sắm sanh đồ nghề, nào gậy, nào túi, nào giày chuyên dụng… bộ đồ nghề tầm trung cũng cỡ tiền trăm…

Tôi cắt ngang: Vậy ông kiếm ra đâu tiền tỷ để chơi golf? – Đó là chuyện golf phổ thông của các đại gia, còn với golf bần nông lại là chuyện khác. Hắn đáp. Để nhập môn được môn thể thao hoàng gia mà không có tiền tỷ buộc phải có cách tiếp cận theo kiểu bần nông. Sân golf được coi là nơi tập trung của tầng lớp tinh hoa của đất nước. Ở đó, cùng với các chính khách cao cấp, là các doanh nhân thành đạt, các đại gia thiếu gia mà với không ít người, ngay chỉ việc tiêu cho vợi bớt túi tiền cũng là một vấn đề.

Để trở thành golfer, ngoài việc có đồ nghề, người chơi golf ít nhất phải qua một khoá học. Khoá sơ cấp thì bốn tuần, với học phí cỡ dăm trăm đô. Khoá dài hạn hơn phải mất một số ngàn đô. Cứ như lời của một số golfers, nếu anh đạt trình độ Handicap 25, phí cho việc học tốn cỡ một con Camry, nếu handicap dưới 20, chi phí phải gấp đôi. Vậy với ông, handicap là bao nhiêu? khoảng trên 10. Đó là thông tin công khai với những tay ham độ, còn với ông, tôi có thể tiết lộ là best score của tôi là dưới 5. Vậy, với đồng lương của một thằng phóng viên, chỉ vài năm bằng con đường nào mà ông có thể đạt được trình độ đó?

Đó là cả một câu chuyện của golf. Như ông biết, tôi học theo cách của tôi, độc nhất, vô nhị, không giống ai. Nghiên cứu kỹ động tác, luật lệ trước khi cầm gậy mà không cần ra sân. Những thứ này, đầy rẫy trên mạng, khỏi cần tìm đâu xa, về nhà mở máy lên, hỏi thằng Gúc (Google) cái gì cũng có. Sau khi nghiên cứu kỹ, tớ tập nguội bằng cán chổi. Rồi ra shop thể thao, tậu lấy một bộ gậy secondhand made in Trung Quốc cỡ vài triệu là có thể ra sân tập. Với những thằng nghiền golf, mỗi buổi tập, có thể đánh dăm trăm bóng, chi phí trên dưới triệu, còn với hắn, chưa bao giờ hắn đánh quá trăm quả.

Không những thế lại đến sân tập vào những giờ khuyến mại, giá bèo chỉ với tám chục ngàn/trăm bóng. Vừa tập vừa soi kỹ vào gương xem đã đúng động tác hay chưa. Cái gì đúng, cứ thế phát huy, cái gì sai kiên quyết sửa. Theo hắn, nếu cố tình phát triển các thói quen xấu từ đầu trong các cú đánh thì suốt đời sẽ phải mất thời gian chống đỡ với những khuyết tật đó. Đây chính là điều làm nên sự khác biệt của hắn với các golfer khác.

Cứ thế chỉ dăm bữa ra sân tập là động tác của hắn trông đã rất pờ-rồ. Rồi thỉnh thoảng hắn lại ra sân, nhưng không phải để tập mà chỉ để xem người ta tập. Thấy ai lóng ngóng hắn xác định ngay là khách hàng tiềm năng. Hắn hướng dẫn cho người ta cách đánh, cách tạo lực, cách làm thế nào để có một cú swing hoàn hảo… “Dạy người khác cũng là một cách học”. Hắn triết lý. Cứ thế, chỉ sau dăm tháng tự tập là hắn đã có thể vác gậy ra sân. Theo hắn, là để lấy cảm giác thật của một golfer. Đánh xong, cầm Score card về nhà, nghiên cứu kỹ các lỗi mắc phải rồi lại tự tập để sửa các lỗi đó.

Mỗi trận 18 hố, phí sân lên tới cả trăm đô, ông lấy tiền đâu ra? Vẫn phải chơi theo kiểu golf bần nông thôi. Nói rồi hắn đọc vanh vách tên các sân golf trên cả nước, sân nào khuyến mại ngày nào trong tuần, giá bao nhiêu, cách thức khuyến mại ra sao… Nhưng cũng không phải vì giá khuyến mại mà tớ phải bỏ tiền. Theo hắn, thi thoảng hắn mới bỏ phí cho các trận chơi golf, chủ yếu là vào các ngày khuyến mại, còn phần lớn do học trò trả.

Học trò của hắn thường tập trung vào hai nhóm. Thứ nhất là những người có chức sắc, nhiều bổng lộc, muốn thể hiện đẳng cấp phải đến sân golf nhưng không phải ông nào cũng có khả năng tự học. Thứ hai là những doanh nhân thành đạt. Họ thường giỏi kiếm tiền nhưng không hẳn là đã giỏi tiếp thu các kỹ thuật golf. Muốn học nhanh đành phải tìm thầy giỏi, mà với hắn, trình độ chơi golf chưa bàn đến nhưng khả năng truyền đạt kỹ thuật thì hắn trên cả bậc thầy.

Với diện tích chạm bóng khoảng 6 cm2 tại mặt gậy, bạn phải đánh một quả bóng bằng composite có đường kính 4,27 cm. Cây gậy golf nặng khoảng 500gram sẽ tạo một lực ly tâm khoảng 50kg trong khoảng thời gian swing là 1,5 giây và mặt gậy sẽ chuyển động với vận tốc 140km/h qua một vòng cung khoảng 4m…

Nghe ông nói về golf một cách thông thái khiến người ta nghĩ rằng, ông là một giáo sư về golf hay chí ít cũng là một nghiên cứu sinh đang làm một luận văn tiến sỹ về golf. Tôi bảo hắn. Hắn đáp: Giáo sư hay không thì không biết, nhưng chí ít, tôi cũng đã có vài học trò đang là giáo sư của các trường đại học danh tiếng. Theo hắn, các giáo sư ngày nay cũng lắm bổng lộc, đặc biệt là việc thu hái từ các doanh nhân, các quan chức có nhu cầu mua sắm bằng cấp.

Nhiều tiền, nhà để ở, nhà ở quê, nhà cho thuê, nhưng nhà dẫu to, dẫu đẹp vẫn khó khoe khoang, khi gặp nhau người ta hỏi, ông có chơi golf không? Đánh bao nhiêu gậy? Cứ thế, con gà tức nhau tiếng gáy, các giáo sư cũng đua nhau vác gậy ra sân golf. Mỗi lớp học sơ cấp, khỏi cần thu phí với giá của các câu lạc bộ, hắn chỉ lấy già nửa của số đó cũng kiếm bộn tiền. Không giàu có nhưng rủng rỉnh hơn thu nhập còi của một thằng phóng viên thể thao như hắn.

Cứ thế, có tiền, hắn đầu tư vào đồ nghề, rồi sắm sanh xe cộ, dẫu không phải xe sang nhưng cũng là bốn bánh như ai, trên đó lúc nào cũng thường trực túi đựng gậy golf với những câu chuyện phong phú, sinh động về golf bần nông.

3. ĐIỀU TIẾT THU NHẬP CỦA CÁC ĐẠI GIA

Hắn bảo rằng, người ta thua cũng là một cách bỏ tiền học phí cho golf. Người bỏ tiền học phí phải được tôn trọng, phải trả lại cho họ một ít tri thức về môn này, thế mới hợp lẽ công bằng. Bỏ lại phía sau một học trò, hắn có thêm một khoản thu nhập.

golfer teeing off in sunset

Có thể nói, các nhà ngoại giao là những người tiên phong trong việc đưa môn golf tái du nhập vào Việt Nam và họ cũng là những người có thâm niên cao nhất trong việc chơi golf, nhưng không phải vì thế mà họ là những golfer xuất sắc.

Kể về thuở ban đầu tiếp cận với golf, hắn không thể quên kỷ niệm với vị đồng hương nguyên đại sứ Mỹ. Gặp nhau ở sân tập, ông này nhìn hắn với con mắt của thiên đình nhìn xuống hạ giới. Ông giảng giải rằng: Golf là môn thể thao cao cấp, đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp, ràng buộc bởi những luật lệ khắt khe… Với các nước phương tây, người ta dạy golf cho trẻ em từ khi mới lên năm. Còn với xứ ta, muốn vác gậy ra sân cũng phải ăn mất cả mẫu lúa.

Theo như ngài đại sứ thì ông đã được một huấn luyện viên người Anh dạy chơi golf từ chục năm nay, tham gia chơi golf từ Á sang Âu mà đánh vẫn chưa đâu vào đâu. Golf đòi hỏi sự khổ luyện chứ không phải như đi bổ củi ở quê mình. Cách giải thích trịch thượng của ông đại sứ đã chạm vào lòng tự ái của hắn. Đó cũng là động lực để hắn quyết tâm nhập môn vào sân chơi thượng lưu này, dẫu mức thu nhập của hắn chỉ nhỉnh hơn ông nông dân ngoại thành tý tẹo.

Âm thầm chuẩn bị, nghiên cứu kỹ lưỡng kỹ thuật chơi golf và tập tành nghiêm túc và khả năng tự học tuyệt vời là nguyên nhân chính để hắn trở thành một golfer. Từ bần nông trở nên xuất sắc. Đánh cùng một fly, để trò chơi thêm hấp dẫn, các golfer thường đặt ra các giải thưởng nho nhỏ cho các hợp đồng: Chín hố đầu, chín hố cuối, tổng. Tuỳ theo handicap để tính điểm chấp.

Ngoài ra lại còn các giải thưởng cho các par, hay birdie. Giải nhỏ thường dăm ba trăm, giải to thường tiền triệu. Khi hứng lên có thể bỏ cả con Lexus vào cuộc. Vị Đại sứ đã từng gặp hắn buổi ban đầu lóng ngóng trên sân tập với bộ đồ cũ kỹ rồi lại gặp hắn trên sân golf với trang phục quê mùa không khỏi buông cái nhìn thương hại. Vào cuộc, sau khi đã thống nhất các giải thưởng, ông này bị hắn hạ đẹp. Tan cuộc hắn cám ơn rằng, các bác thương em nên thả, để em có phí nâng cao tay nghề.

Với các tay golf nghiệp dư, thành tích thường không mấy ổn định. Thi thoảng có trận đánh xuất thần nhưng có trận bể tan nát. Để khoe khoang, người ta thường chỉ nhớ đến những trận đánh hay rồi kể rằng đã đánh một trận như rứa, như rứa, được mấy par, mấy birdie… nhưng với hắn thì ngược lại. Hắn chỉ nhớ đến những lỗi đã mắc phải, sau mỗi trận thắng, hắn thường cho rằng, hôm nay gặp may, được các bác thả nên em mới sống, nếu không em chết thẳng cẳng.

Có người tin rằng, hôm nay mình thua do bể, do cẩu thả. Ra về trong tâm trạng khẩu phục mà tâm không phục, âm thầm ra sân luyện chưởng và hẹn này tái ngộ để gỡ gạc thể diện. Cứ thế, đã gặp hắn một trận, không khỏi phải gặp lại để tái đấu. Tái đấu một trận chưa thoả đáng, có người tái đấu đến trận thứ ba, thứ tư… mà kết quả đều thua sát nút. Cứ thế, khi các đại gia đã tâm phục khẩu phục thì hắn mới thổ lộ cho những bí quyết kỹ thuật mà hắn đã dày công nghiên cứu.

Hắn bảo rằng, người ta thua cũng là một cách bỏ tiền học phí cho golf. Người bỏ tiền học phí phải được tôn trọng, phải trả lại cho họ một ít tri thức về môn này, thế mới hợp lẽ công bằng. Bỏ lại phía sau một học trò, hắn có thêm một khoản thu nhập. Chia tay với một kẻ bại trận, hắn lại tìm kiếm đối tác khác. Lại gặp nhau trong những trận đấu mà đối phương tràn đầy niềm kiêu hãnh và tự tin chiến thắng, nhưng rồi, khi chia tay sẽ thu được sự khiêm tốn cần thiết và được hắn chia sẻ một số kỹ thuật chơi golf.

Thoạt tiên, các đối tượng mà hắn hướng tới các nhà ngoại giao, những người có thâm niên trong làng golf. Với các đối tượng này, hắn giải quyết gọn trong vòng chỉ già nửa năm. Tiếp sau đó, hắn hướng đến các chính khách, các quan chức hiếu thắng thường xuyên đếm thiếu gậy. Rồi khi trong các nhóm đó về cơ bản không còn đối thủ, hắn bắt đầu hướng tới những đối thủ ở ngoài tỉnh, rồi cả người nước ngoài.

Sự nghiệp golf bần nông của ông hoành tráng quá, phải chăng, ông không gặp thất bại? Tôi hỏi. — Có chơ, thất bại nhiều là đàng khác. Chỉ có điều, người ta có thể thất bại trong từng trận đánh, nhưng vấn đề là phải chiến thắng trong cả cuộc chiến tranh. Triết lý này tớ học được ở Napoleon. Vậy là, trong sự nghiệp golf bần nông của ông, có cả triết lý chiến tranh của thiên tài quân sự Napoleon? – Học không phải là bắt chước mà là vận dụng thế nào! Hắn lại triết lý.

Theo như hắn kể, thì, với hắn, chuyện thua vẫn thường xẩy ra. Thường thì hắn hay thua hợp đồng đầu tiên. Cũng có khi thắng hợp đồng đầu tiên thì hợp đồng thứ hai hắn nhường. Cũng có khi hắn thua trắng cả ba hợp đồng, nhưng rồi để hẹn một cuộc tái đấu với phần thưởng xứng đáng hơn. Cũng có khi gặp đối tác không xứng tầm, hắn thua một cách thật thà để rồi sẽ thắng một đối tác khác vẻ vang hơn.

Người ta thường bảo, có người tỷ phú về tiền bạc nhưng bần nông về học vấn. Khi theo đuổi sự nghiệp kiếm tiền, người ta chỉ chăm chú vào chuyên môn nào mà dòng tiền đang chảy mạnh, còn những thứ khác người ta không để tâm. Đặc biệt với những chức sắc, khi đã có vị trí, bổng lộc cứ thế đổ về như nước sông Đà. Khi túi tiền ngày càng phình to mà tri thức về đời sống không lớn lên tương xứng là một thảm hoạ.

Trên sân golf, khi đi chung  với hắn, ngoài thời gian tập trung cho các cú đánh, là những câu chuyện từ cổ chí kim, từ đông sang tây, mà với hắn chuyện gì cũng uyên bác. Mỗi lần lên sân golf hắn lại chọn một chủ đề nào đó mang tính thời sự. Từ chuyện Iran cấm vận eo biển Hormuz ảnh hưởng đến thị trường dầu mỏ thế giới ra răng đến chuyện tập trận chung Mỹ Hàn ảnh hưởng đến các chỉ số chứng khoán châu Á…

Hắn là tay golf bần nông về tiền bạc nhưng tỷ phú về học vấn. Dường như môi trường golf đã biến hắn từ một tay nhà báo quèn thành một giáo sư, ít nhất là trong lĩnh vực golf và văn hoá ứng xử trong giới thượng lưu. Nghe hắn nói chuyện về golf bần nông, tôi cũng thấy ngứa ngáy và lập tức muốn vác gậy ra sân. Không trở thành một golfer trứ danh thì chí ít cũng thu lượm được những kiến thức muôn màu từ cái đầu thông thái của hắn.

 Phan Thế Hải

Golf bần nông

Golf bần nông

Golf bần nông

Golf bần nông

Golf bần nông

Golf bần nông

 
Leave a comment

Posted by on 02/05/2012 in Khám phá

 

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

[Tài chính] Làm sao khơi nguồn lực hàng trăm TẤN VÀNG


Ngân hàng Nhà nước đang triển khai đề án huy động nguồn lực vàng trong dân cư. Trước một nguồn lực rất lớn, ước tính có từ 300 – 500 tấn, làm sao khai thác được giá trị của nó?

Ý tưởng đề án được công bố vào tháng 8/2011. Đầu tuần này, Thống đốc Nguyễn Văn Bình chính thức gợi mở về định hướng triển khai. Theo đó, thời gian tới, Nhà nước sẽ đứng ra huy động vàng thông qua các tổ chức tín dụng, sử dụng nguồn lực đó cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Trong những chia sẻ vừa qua, ông Trương Văn Phước, nguyên Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước), Tổng giám đốc Ngân hàng Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cũng đã nêu quan điểm về hướng triển khai của đề án trên.

Chênh lệch và lợi ích nhóm “G5”…

Đầu năm mới, xin chúc ông mạnh khỏe và thành công trong công việc. Năm mới nhưng vẫn phải nhắc đến chuyện cũ, giá vàng trong nước vẫn cao hơn nhiều so với giá thế giới quy đổi. Theo ông, nguyên do từ đâu?

Chênh lệch đó đã tồn tại từ rất lâu rồi. Nhưng thời gian vừa qua thì có độ chênh tương đối lớn. Theo tôi có một số lý do chủ yếu như sau.

Thứ nhất, do phải hạn chế nhập siêu nên Ngân hàng Nhà nước hết sức dè dặt việc cho phép nhập khẩu vàng, tiết kiệm ngoại tệ. Do đó giá quốc tế của vàng tính qua tỷ giá hối đoái chỉ là một mức giá mang tính ý niệm và tham khảo mà thôi. Thứ hai, thị trường luôn kỳ vọng sự tăng giá của USD so VND, làm cho mức giá vàng trong nước cao hơn giá quy đổi. Một lý do nữa, vàng giao dịch trong nước đại bộ phận là vàng vật chất, tỷ trọng rất lớn là vàng SJC, đòi hỏi phải có thời gian gia công nên mức chênh lệch này cao hơn.

Nhưng tôi nghĩ trong kinh doanh mua bán vàng, quan trọng nhất là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán. Chênh lệch hiện nay khoảng 10.000 – 30.000 đồng/chỉ vàng là chấp nhận được vì tính thanh khoản của vàng là rất cao. Ai bán cũng có người mua, ai mua cũng có người bán.

Dù còn những hạn chế về công cụ can thiệp, nhất là về khung pháp lý, nhưng năm qua Ngân hàng Nhà nước cũng đã vào cuộc, điển hình là giải pháp mở lại tài khoản vàng với sự tham gia của nhóm “G5+1” theo cách nói của nhiều người. Tuy nhiên, chênh lệch đó vẫn chưa được rút ngắn triệt để. Là đại diện một thành viên tham gia giải pháp đó, ông có giải thích gì không? Một số ý kiến cho rằng ở đây có lợi ích lớn cho riêng các thành viên tham gia, quan điểm của ông như thế nào?

Trước hết, phải nói rằng việc cho mở lại tài khoản vàng vào tháng 10/2011 là việc làm rất đáng hoan nghênh của Ngân hàng Nhà nước. Thực ra, Ngân hàng Nhà nước đã cho một số ngân hàng thương mại và một số doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tài khoản vàng ở nước ngoài từ năm 2004. Lúc đó, các công cụ phái sinh về vàng được thực hiện giao dịch thông qua các tài khoản vàng đã trở thành các công cụ phòng chống rủi ro rất hiệu quả.

Nhưng sau đó, khoảng đầu 2010, do biến động giá trên các sàn vàng tác động mạnh đến tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu đóng các tài khoản vàng. Và thời gian sau, việc chuyển hoá vàng từ nguồn vàng huy động của các ngân hàng qua VND cũng không được phép, cũng như chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vàng.

Những yếu tố cộng hưởng đó cùng với việc hầu như không cho nhập vàng nữa đã làm cho giá vàng trong nước tăng hơn giá quốc tế quy đổi, có lúc lên hơn 3 đến 4 triệu đồng/lượng. Thuật ngữ “G5+1” ra đời  vào tháng 10/2011 trong bối cảnh đó.

Có 5 ngân hàng thương mại với thế mạnh huy động và cho vay vàng cùng với SJC đã trở thành lực lượng can thiệp chủ yếu giúp tạo nguồn cung bán ra khá lớn trên thị trường trong nước, chỉ 3 tháng cuối năm 2011 đã bán ra trên mấy chục tấn vàng. Phải thừa nhận rằng sự can thiệp này là có hiệu quả lớn, vì từ chênh lệch mấy triệu đồng/lượng, trong thời gian can thiệp bình quân mức chênh lệch này khoảng 900.000 đồng/lượng, thậm chí có lúc còn 400.000 đồng.

Hiện nay mức chênh lệch này là 750.000 đồng. Sự rút ngắn về chênh lệch giá như thế là khá triệt để đấy chứ! Việc so sánh hai mức giá trong nước và quốc tế quy đổi thực ra là rất tương đối. Tiết kiệm khoảng 2 tỷ USD vì không cần nhập khẩu mấy chục tấn vàng can thiệp mà người dân vẫn được mua vàng với giá tương đối thấp là một thực tế đáng suy nghĩ trước một nguồn lực tài chính quan trọng là vàng.

Còn dư luận về lợi ích của nhóm “G5” thưa ông…

Đó cũng là một vấn đề cần làm rõ.

Không cho nhập khẩu vàng thì không còn sự liên thông nữa dưới góc độ trạng thái vàng (position). Tức là bán đi 100 kg vàng trong nước (từ nguồn huy động tiết kiệm vàng của dân) thì không thể chở 100 kg vàng ở nước ngoài về nhập kho trả lại cho dân được. Đã có sự nhầm lẫn khi tính toán phép tính đơn giản đó. Mà thực ra là bán trong nước 1 lượng vàng, ví dụ 44 triệu đồng, thì nay phải mua 45,3 triệu đồng, tức là lỗ 1,3 triệu đồng. Nhưng nhờ có tài khoản vàng nước ngoài, khi bán trong nước thì mua tương đương 3.214 ounce ở nước ngoài, ví dụ ở mức giá 1.690 USD/ounce, nay bán quốc tế 1.740 USD/ounce thì lãi được 50 USD/ounce, tương đương 1,2 triệu. Như vậy thì các ngân hàng can thiệp vẫn phải chịu lỗ. Họ đem lợi nhuận ở nước ngoài về chia xẻ cho những người dân đã mua vàng vật chất với giá thấp trước đây.

Đương nhiên là các ngân hàng này có bị lỗ không? Chắc là không. Vì sao? Là vì trước đây họ huy động vàng tốn chi phí nhiều nhưng Ngân hàng Nhà nước cấm họ không được cho vay, cũng không chuyển hoá qua tiền đồng. Họ bị lỗ lớn. Nay tham gia can thiệp, họ được chuyển hoá qua tiền đồng thì sử dụng tiền đồng này có sinh lời, vừa bù đắp chi phí huy động vàng và khoản lỗ trong can thiệp. Đương nhiên là lượng tiền đồng này, theo yêu cầu can thiệp của Ngân hàng Nhà nước mua bán thường xuyên nên cũng không phải có số kết dư nhiều.

Về lâu dài, theo ông, có cách nào để giải quyết triệt để chênh lệch đó không? Và ông có thể chia sẻ dự báo của mình về giá vàng trong năm nay?

Cách duy nhất để giải quyết triệt để chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế quy đổi đó là việc cho phép kinh doanh vàng tài khoản trong nước và kinh doanh vàng tài khoản nước ngoài. Tất nhiên là hoạt động này cần phải được quản lý chặt chẻ, thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại. Giá vàng quốc tế được sử dụng như là mức giá tham chiếu, cùng với tỷ giá USD/VND, sẽ tạo nên mức giá vàng yết bằng VND.

Về dự báo giá vàng trong năm nay, tôi xin chia sẻ một số thông tin mà các tổ chức quốc tế đã dự báo, có thể vàng sẽ đạt mức 2.000 USD/ounce, thậm chí là 2.200 USD/ounce vào cuối năm 2012. Đó có thể là các mức đỉnh ở những thời điểm, mức bình quân giá của năm theo tôi là 1.900 USD/ounce. Nếu dự báo như thế thì đường xu hướng (trend line) của vàng là đi lên. Tuy nhiên, trong ngắn hạn vàng có thể lên giá thêm nhưng trung, dài hạn phải hết sức thận trọng với sự đảo chiều của giá vàng, vì vàng đã tăng giá cực kỳ nhanh trong mấy năm qua rồi trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế của thế giới.

Khi nắm một nguồn lực lớn trong tay…

Trở lại đề án huy động vàng trong dân như đề cập ở trên, ông định hình thế nào về nội dung và hướng triển khai của nó?

Vàng là một nguồn lực tài chính cần phải thừa nhận trong nền kinh tế nước ta. Cho nên huy động vàng trong dân là một chủ trương đúng. Thị trường quốc tế thừa nhận tính chuyển đổi của vàng, tất nhiên là vàng theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tôi chưa nghiên cứu đề án huy động vàng của Ngân hàng Nhà nước. Nhưng có thể hình dung như thế này. Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng thương mại quay trở lại huy động vàng, với tư cách là các đại lý nhận ủy thác để họ sử dụng lượng vàng huy động được này mua tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước. Lượng vàng này có thể đem về Ngân hàng Nhà nước hay để tại kho của các ngân hàng. Tùy tình hình cụ thể, Ngân hàng Nhà nước có thể đem hoán đổi (swap) lượng vàng này với các ngân hàng nước ngoài để thu về ngoại tệ. Hoặc có thể ủy thác cho các ngân hàng hoán đổi với ngân hàng nước ngoài. Lượng ngoại tệ thu được này tất yếu là một khoản mục của cán cân thanh toán, làm tăng dự trữ ngoại hối nhà nước.

Mặt khác, Ngân hàng Nhà nước cũng có thể sử dụng nguồn vàng huy động này để thực hiện việc can thiệp trên thị trường vàng bằng cách bán vàng ra thị trường thông qua hệ thống các ngân hàng thương mại. Nói tóm lại là khi đã có một lượng vàng lớn trong tay thì Ngân hàng Nhà nước có rất nhiều cách để sử dụng nguồn lực này.

Sử dụng nguồn lực đó, giá trị hay tính hiệu quả của đề án khi triển khai nên nhìn nhận ở những điểm nào, thưa ông?

Điểm đầu tiên có thể thấy được là: từ chỗ một lượng vàng rất lớn trong dân từ trước đến nay được hệ thống ngân hàng huy động, hai năm nay hoạt động này bị ngừng trệ, nay cho phép trở lại có thể ví như sự khơi thông một dòng chảy. Nó không chỉ giúp cho các ngân hàng trở lại các dịch vụ liên quan đến vàng, mà quan trọng hơn rất nhiều là tạo ra một khuôn khổ pháp lý đảm bảo về quyền tài sản là vàng của người dân.

Điểm thứ hai, theo tôi, bấy lâu nay chúng ta hay nói đến câu chuyện “chống vàng hoá”, chúng ta biết cái gì phải làm, nhưng làm nó như thế nào thì có vẻ như còn lúng túng. Đề án huy động vàng lần này biểu hiện một cách làm mới, mà khả năng thành công là rất cao.

Điểm thứ ba, như chúng ta đều biết ngoài chức năng là một hàng hóa thông thường, trong những điều kiện nhất định vàng còn là một tài sản tài chính và tính chuyển đổi của nó qua ngoại tệ là rất cao. Đất nước ta phải tiếp tục xử lý bài toán cân đối ngoại tệ ở tầm quốc gia trong nỗ lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cho nên huy động vàng trong dân mở ra cơ hội góp phần đáp ứng bài toán cân đối này.

Cuối cùng dưới góc độ điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động mua bán vàng của Ngân hàng Nhà nước với thị trường có thể xem như một công cụ tác động đến cung ứng tiền và tác động đến tâm lý của thị trường nữa.

Trong định hướng đưa ra, Ngân hàng Nhà nước có nói rằng sẽ có công cụ để “bảo hiểm rủi ro” về giá. Theo ông, cơ chế bảo hiểm đó được thực hiện như thế nào?

Nếu chúng ta tiếp cận được các công cụ bảo hiểm rủi ro của thị trường quốc tế thì bảo hiểm rủi ro về giá vàng là điều nên làm. Có vẻ như người Việt chúng ta khi tham gia giao dịch vàng phần lớn là thực hiện theo chiều mua, không phải là họ không dự báo được giá vàng có thời điểm đi xuống, nhưng nếu không có vàng sẵn trong tay thì làm cách nào để bán đi rồi mua lại khi giá xuống.

Tôi nêu thí dụ đó để thấy rằng các công cụ phái sinh là rất quan trọng cho nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro về giá. Sau khủng hoảng tín dụng ở Mỹ năm 2008, các nhà làm chính sách của chúng ta khá dè dặt về các công cụ phái sinh. Đó là điều có thể hiểu được. Nhưng sử dụng các công cụ phái sinh thì cần phải gắn chặt nó vào trong các điều kiện cụ thể của thị trường. Ở ta thì còn rất lâu nữa mới đặt ra chuyện biến tướng, hệ luỵ từ các công cụ phái sinh.

Như ông đề cập, cũng như trong định hướng của Ngân hàng Nhà nước, là có thể chuyển đổi một phần nguồn lực vàng huy động được thành ngoại tệ, thành dự trữ ngoại tệ. Có hợp lý không khi xem rằng đó là biến “của người” thành “của ta”?

Nếu nói như thế thì một lúc nào đó sẽ có người đặt câu hỏi mấy trăm tấn vàng trong dân hiện nay có phải là “của ta” không? Vì ta có sản xuất ra vàng được đâu. Nhưng người dân ta sản xuất ra sức lao động, tạo ra hàng hoá xuất khẩu, thu về ngoại tệ, tất nhiên một lượng ngoại tệ trong đó từ trước đến nay đã chuyển qua vàng. Cho nên trong cái ngoại tệ “của người” đó bản chất nó cũng đã có một phần “của ta” rồi.

Ở đây là một thuyết tương đối.

Nói dài dòng vậy thôi, chứ thị trường tài chính quốc tế họ chuyên làm chuyện này mà. Một tài sản tài chính này mua đứt, bán đoạn thành một tài sản tài chính khác thì ai cũng biết nghiệp vụ đó là mua bán giao ngay (spot). Còn cấm cố thế chấp tài sản này để có tài sản kia thì đó là nghiệp vụ hoán đổi (swap). Giả sử ta bán giao ngay lượng vàng trong dân thì lập tức làm chủ được lượng ngoại tệ “của người” rồi. Ngay cả những dòng vốn nước ngoài vào tạm thời ở nước ta như là đầu tư gián tiếp chẳng hạn thì cũng góp phần bằng cách này hay cách khác vào trong dự trữ ngoại hối nước ta cơ mà.

Mục đích và mong muốn là vậy, nhưng khi triển khai đề án trên, khi vận hành nguồn lực đó, theo ông đâu là những yếu tố rủi ro cần tính đến?

Nói không có rủi ro gì cả thì có vẻ là quá chủ quan. Nhưng tôi tin rằng rủi ro là vô cùng bé. Có những khó khăn có thể gặp phải nhưng chỉ mang tính kỹ thuật mà thôi, cần phải dự báo trước khi triển khai đề án

Chẳng hạn như khi người dân muốn rút vàng trước hạn thì xử lý thế nào? Ngân hàng thương mại có được chiết khấu các tín phiếu vàng đã mua Ngân hàng Nhà nước trước hạn không? Nhu cầu mua bán vàng của người dân được đáp ứng ra sao… Đó là những vấn đề có thể xử lý được.

Lời giải cho một phân khúc

Còn về lợi ích của người sở hữu vàng? Hay làm sao để họ quyết định và tin tưởng gửi vàng vào ngân hàng khi triển khai đề án, thưa ông?

Sử dụng VND mua vàng gửi vào ngân hàng thương mại để bảo toàn đồng vốn của mình suy cho cùng là một sự đánh đổi. Vì lãi suất gửi vàng chắc chắn là thấp hơn nhiều so với lãi suất VND. Giá vàng có thể tăng lên mà cũng giảm xuống. Nhưng muc tiêu chính sách đặt ra là tìm lời giải tối ưu cho một phân khúc của thị trường tài chính nước ta là thị trường vàng, là nguồn lực vàng trong dân.

Những diễn biến của thị trường tự khắc nó sẽ là những đầu vào thông tin để người dân tự điều chỉnh quyết định đầu tư của mình.

Như trao đổi trước đây ông nói rằng, một nghiệp vụ cấu thành cho cơ chế huy động này là mở tài khoản vàng cho người dân. Vậy nên mở như thế nào và liệu có dẫn đến những bất cập, xáo trộn như giao dịch vàng tài khoản qua các sàn vàng những năm trước đây?

Người dân gửi vàng vào một tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng thì tự nhiên đã hình thành một tài khoản vàng của người dân rồi. Điều mà thị trường mong đợi là làm sao thay đổi một tập quán đã tồn tại rất lâu ở nước ta là người dân thích mua bán vàng vật chất.

Nếu có một vật thể làm vật tham chiếu (reference) cho sự biến động giá vàng mà không tham chiếu vào thỏi vàng vật chất cụ thể thì đó chỉ có thể là một chỉ số, một index. Chỉ số này tất yếu phải tham chiếu vào giá vàng quốc tế và tỷ giá USD/VND. Cho nên nếu các ngân hàng mở tài khoản vàng ở nước ngoài thì có thể cung ứng dịch vụ mua bán vàng trực tiếp cho người dân, nhu cầu mua bán vàng vật chất lúc đó chắc chắn sẽ giảm đi nhiều.

Sẽ không có gì bất cập hay xáo trộn như ở các sàn vàng trước đây vì dịch vụ này chỉ thuần túy là mua bán vàng trên tài khoản gần như sao chụp biến động giá vàng quốc tế. Tất nhiên là cũng phải xử lý những vấn đề mang tính kỹ thuật, như là trạng thái vàng của các ngân hàng trong nước tại các ngân hàng nước ngoài…

Minh Đức (Vneconomy)

 
Leave a comment

Posted by on 02/04/2012 in Tài chính

 

Tags: , , , , , , , , , , , , , , , , , , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.